Vì vậy, để trả lời chính xác 1 tín chỉ bao nhiêu tiền còn phụ thuộc vào việc thí sinh sẽ lựa chọn trường, chuyên ngành đào tạo tương ứng. Theo đó, thí sinh nên cân nhắc kỹ lưỡng mọi thứ để lựa chọn chuyên ngành phù hợp với năng lực của mình. Trung bình 1 tín Trước khi tìm hiểu khái niệm “vòng quay vốn lưu động”, bạn cần nắm được bản chất cốt lõi “vốn lưu động” là gì. Vốn lưu động được hiểu là tài sản lưu động, tức là những tài sản chỉ có giá trị ngắn hạn. Có thể kể ra một số tài sản thuộc diện 1 lượng bằng bao nhiêu Ounce? Để quy đổi đơn vị vàng quốc tế sang đơn vị lượng, chỉ, phân và ngược lại bạn tiến hành theo bảng quy ước sau: 1 ounce = 31.103467 gram vàng. 1 chỉ vàng = 3,75 gram vàng. 1 lượng = 37,5 gram vàng. 1 ounce = 8,29426 chỉ vàng. 1 ounce = 0, 829426 lượng vàng. 1 oz bằng bao nhiêu ml. Đây là câu hỏi của nhiều người trong lĩnh vực thực phẩm. 1oz hay 1 fl oz = 29.57 ml (29.57353). Ngoài những đơn vị đo trên, trong ẩm thực, làm bánh, nấu ăn chúng ta còn sử dụng rộng rãi cách chuyển đổi khác nhau nữa, khách hàng có thể tham khảo thêm 1 vạn nhân dân tệ là bao nhiêu tiền Việt Nam. 1 vạn tệ tương đương 35 triệu đồng. Trong lĩnh vực tiền tệ, tại Việt Nam hiếm khi sử dụng đơn vị vạn. Nhưng đất nước láng giềng Trung Quốc lại sử dụng đơn vị “ vạn” trong tiền tệ rất nhiều. Bởi vậy ở đây có Fast Money. Đông Y Tại Việt Nam đã có thời những người nghiên cứu giảng dạy và viết sách cho rằng “Đông y” có xuất xứ từ phương Đông. Ngày nay “Đông y” là thuật ngữ được sử dụng song song với “Y học cổ truyền”, dùng chỉ nền y học có nguồn gốc Trung Quốc và Việt Nam xưa, để phân biệt với Tây y y học hiện đại từ phương Tây. Triết lý y học Lý luận Đông y dựa trên nền tảng triết học cổ Trung Hoa Âm Dương, Ngũ Hành. Âm Dương, Ngũ Hành cân bằng thì cơ thể khỏe mạnh, việc chữa bệnh nhằm lập lại trạng thái cân bằng của các yếu tố đó trong khi Tây y dựa trên các kiến thức về giải phẫu, sinh lý, vi sinh cùng các thành tựu của các ngành khoa học hiện đại. Bên cạnh Âm Dương, Ngũ Hành, cơ sở lý luận Đông y còn bao gồm học thuyết Thiên Nhân hợp nhất, học thuyết kinh lạc, bát cương, học thuyết tạng tượng. Mặc dầu tạng tượng học Đông y có nhiều điểm tương đồng với giải phẫu và sinh lý học Tây y, các từ Hán-Việt dùng để chỉ các tạng tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận, phủ vị, đởm, tam tiêu, bàng quang, tiểu trường, đại trường trong Đông y không đồng nhất với các từ chỉ các cơ quan theo giải phẫu học Tây y tim, gan, lách, phổi, cật; dạ dày, mật Bởi lẽ Đông y có một hệ thống lý luận khác, theo đó, việc chia tách cơ thể thành các bộ phận khác nhau một cách rạch ròi chỉ là khiên cưỡng, do cơ thể là một thể thống nhất. Trái ngược với văn hóa phương Tây, văn hóa phương Đông coi trọng “cân bằng” và “điều hòa”. “Trung dung” – tức cân bằng giữa hai thái cực, được người xưa tôn vinh là tiêu chuẩn tối cao trong triết lý tu thân của bậc quân tử. Trong quan hệ với thiên nhiên, phương Đông không chủ trương chế phục mà hướng tới sự hòa hợp – “thiên nhân hợp nhất”. Trong quan hệ giữa người với người, từ ngàn năm xưa “dĩ hòa vi quý” đã trở thành phương châm xử thế cơ bản. Đặc tính văn hóa đó đã ảnh hưởng sâu sắc tới quan niệm và phương pháp chữa bệnh của Đông y bệnh tật, Đông y quan niệm mọi thứ đều do “âm dương thất điều” – mất sự cân bằng và trung dung gây nên. Để chữa trị bệnh tật, Đông y sử dụng 8 biện pháp cơ bản – “hãn” làm ra mồ hôi, “thổ” gây nôn, “hạ” thông đại tiện, “hòa” hòa giải, “ôn” làm ấm, “thanh” làm mát, “tiêu” tiêu thức ăn tích trệ, “bổ” bồi bổ để khôi phục cân bằng chỉnh thể, hóa giải mâu thuẫn giữa “chính khí” sức chống bệnh và “tà khí” tác nhân gây bệnh. Trong 8 phép đó, không có biện pháp nào mang tính đối kháng, tấn công trực diện vào “bệnh tà” như trong Tây y. Đặc biệt để thực hiện việc hóa giải có hiệu quả nhất, Đông y chủ trương “trị vị bệnh” chữa từ khi bệnh chưa hình thành. 2000 năm trước, Nội kinh – bộ sách kinh điển của Đông y đã viết Bậc thánh y không chờ khi bệnh hình thành rồi mới chữa trị, mà chữa từ khi chưa phát bệnh. Bệnh đã hình thành mới dùng thuốc, xã hội đã rối loạn mới lo chấn chỉnh, khác gì khi khát nước mới lo đào giếng, giặc tới nơi mới đúc binh khí, chẳng quá muộn sao? Thánh nhân bất trị dĩ bệnh, trị vị bệnh; bệnh dĩ thành nhi hậu dược chi, loạn dĩ thành nhi hậu trị chi, ví do khát nhi xuyên tỉnh, đấu nhi chú binh, bất diệc vãn hồ. Do chủ trương “trị vị bệnh” nên Đông y rất coi trọng dưỡng sinh – nâng cao “chính khí”, chính khí đầy đủ thì bệnh tật không thể xâm phạm Chính khí tồn nội, tà bất khả can. Đó cũng là tư tưởng “tướng giỏi không cần đánh mà thắng” trong Tôn Tử binh pháp Bất chiến nhi khuất nhân chi sư. Trong sách Nội kinh, dưỡng sinh được đặt vào vị trí tối cao, còn trị liệu chỉ được xem là biện pháp ở bình diện thấp. Tấn công trực tiếp vào “bệnh tà” chỉ được Đông y xem như biện pháp cuối cùng, bất đắc dĩ. “Trị vị bệnh”, “phòng bệnh hơn chữa bệnh” – là chiến lược y tế vô cùng sáng suốt và là nét văn hóa độc đáo của Đông y từ ngàn năm xưa. Ngày nay, khi phổ bệnh đang có xu hướng chuyển từ nhiễm trùng sang bệnh tâm thân, nội tiết, chuyển hóa, phương thức sống,… thì chiến lược đó sẽ còn có giá trị thực tiễn và khoa học to lớn hơn nữa. Đông y là nhân thuật, nên đối tượng chính của Đông y không phải là “bệnh” mà là “con người”. Con người trong Đông y cùng với môi trường, vũ trụ hợp thành một chỉnh thể thống nhất, người xưa gọi đó là “Thiên nhân hợp nhất”. Bản thân con người cũng là một chỉnh thể thống nhất, nên tinh thần và thể xác hợp nhất với nhau, người xưa gọi đó là “Hình thần hợp nhất”. Phương châm cơ bản của Đông y trong chữa bệnh là “lưu nhân trị bệnh” – nghĩa là trước hết phải giữ lấy mạng sống của con người, sau đó mới nghĩ tới vấn đề khống chế, tiêu trừ ổ bệnh. Mục tiêu chữa bệnh của Đông y là lập lại trạng thái “cân bằng chỉnh thể”. Do đó trong quá trình chữa bệnh, Đông y coi trọng khả năng tự khôi phục và tái tạo của cơ thể con người, lấy việc huy động tiềm năng của con người làm phương châm chính. Vì vậy, bệnh nhân được coi là chủ thể, “nhân vi bản bệnh vi tiêu” – nghĩa là người là gốc, là chủ thể, bệnh chỉ là ngọn. Đông y dùng thuốc tùy theo nguyên tắc “Biện chứng luận trị” – nghĩa là tùy theo chứng trạng biểu hiện ở người bệnh mà sử dụng phép chữa, bài thuốc khác nhau. Trên lâm sàng, trăm người mắc cùng một bệnh, có thể được chữa trị bằng hàng trăm phương thuốc khác nhau. Vì phương thuốc được lập ra theo nguyên tắc “Biện chứng luận trị” – tức phỏng theo bệnh tình cụ thể ở từng người bệnh. “Phương giả phỏng dã” như y gia thời xưa thường nói. Chẩn bệnh Chẩn đoán Đông y dùng các phương pháp vọng chẩn quan sát bệnh nhân và hoàn cảnh, văn chẩn lắng nghe âm thanh từ thể trạng và tâm sự của bệnh nhân, vấn chẩn hỏi bệnh nhân và người nhà những điều liên quan, thiết chẩn khám bằng tay và dụng cụ để xác định bệnh trạng. Điều trị Điều trị Đông y gồm có phương pháp châm cứu, các thuốc uống hoặc dùng ngoài da, và cả xoa bóp. Phương pháp châm cứu dựa trên hệ thống kinh mạch được miêu tả chi tiết với hàng trăm huyệt trên cơ thể. Các huyệt và các đường kinh mạch có mối liên hệ với các tạng, phủ trong cơ thể, để điều trị các rối loạn ở tạng phủ nào, rối loại kiểu nào thì can thiệp vào các huyệt tương ứng và một số huyệt khác để hỗ trợ nếu cần thiết. Điều đặc biệt là hệ thống các huyệt, kinh mạch đó không thể dùng các phương pháp giải phẫu, sinh lý của Tây y để miêu tả được, tuy rằng trong thời đại ngày nay, châm cứu được sử dụng như một phương pháp gây vô cảm gây tê trong một số cuộc phẫu thuật Đông Tây y kết hợp. Thuốc Bắc là các vị thuốc được khai thác và bào chế theo sách của Trung Quốc truyền sang và phát triển bởi các lương y người Việt. Thuốc Nam là các vị thuốc do các thầy thuốc khám phá trên lãnh thổ Việt Nam. Các vị thầy thuốc nổi tiếng được xem là bậc tổ của nghề y Việt Nam là Lê Hữu Trác còn lưu truyền bộ Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh là sách căn bản của Đông y Việt Nam và Tuệ Tĩnh tác giả của câu nói nổi tiếng “Nam dược trị Nam nhân” – thuốc Nam dùng chữa bệnh cho người Nam. Lưu ý Phương pháp cạo gió được dùng rộng rãi trong dân gian chưa được ngành Đông y chính thức công nhận và phương pháp chích lễ cũng còn nhiều bàn cãi. Thuốc Đông y được tạo ra từ các bài thuốc đông của các nguyên liệu cây cỏ thực vật Thảo mộc được gọi là Thảo dược . Những bài thuốc Đông y đều do người thầy thuốc hoặc nhân dân dựa theo kinh nghiệm chữa bệnh mà dựng nên . Thảo dược[sửa] THẢO có nghĩa là cỏ cây, còn DƯỢC nghĩa là thuốc. Thảo dược nói một cách dễ hiểu là những cây trồng được dùng làm thuốc chữa bệnh. những sản phẩm có nguồn gốc từ thực vật tự nhiên được sử dụng để điều trị hoặc hỗ trợ điều trị bệnh. Người ta có thể lấy ở bất cứ phần nào trên cây như thân, lá, hoa, rễ cành ở dạng tươi hoặc đã qua sơ chế, chế biến, chiết dịch để làm thảo dược. Thảo mộc nằm trên không hay dưới đất, trong hình dạng nguyên thủy hay được chế biến đều được coi là thảo dược. Thảo dược đã có từ rất lâu trên mọi nền văn hóa. Bằng chứng bằng văn bản lâu đời nhất được tìm thấy trên một cổ vật của nền văn hóa Sumerian có niên đại năm lịch sử ở Ấn Độ, chỉ có 12 công thức nhưng có thể chữa được vô số các loại bệnh khác nhau từ 250 loại cây, bao gồm cả cây anh túc. Riêng ở Việt Nam, các vị lương y đã sử dụng thảo dược ngay từ thời khai thiên lập quốc với hai loại thuốc chính là thuốc bắc – cây cỏ được nhập từ Trung Hoa và thuốc Nam –chủ yếu dùng cây cỏ trong chính đất nước của mình. Đa số thảo dược trên thị trường hiện nay đều được sản xuất theo kinh nghiệm đã dùng hay dựa vào những bài thuốc gia truyền rất đáng tin cậy. Thảo dược có sẵn trong tự nhiên không có thêm nhiều chất phụ gia hay chất tạo mùi, chất điều hướng nư trong nhiều loại thuốc khác nên thảo dược rất an toàn cho người bệnh . Thảo dược đem lại hiệu quả tin cậy, ít tác dụng phụ cho người dùng Bên cạnh việc chữa bệnh, thảo dược còn có tác dụng làm đẹp cho làn da. Đối với làn da nhờn hoặc có nhiều mụn nang, bạn hãy pha trộn một chút nước tỏi tươi và bột húng tây vào thành công thức giúp làm se khít lỗ chân lông. Bí quyết chữa mụn nhanh chóng là dùng một tép tỏi cắt lát thoa trực tiếp vào vùng da mụn. Vào ra cho một muỗng canh bạc hà vào dung dịch làm sạch da mặt bằng hoa cúc la mã sẽ là công thức tuyệt vời giúp se khít lỗ chân lông. Bài thuốc[sửa] Bài thuốc Đông Nam hoặc Bắc đều có thể gồm 1 vị hoặc nhiều vị. Ví dụ Bài Độc ẩm thang chỉ có vị Nhân sâm; bài thuốc chữa viêm gan chỉ có vị Nhân trần . Bài thuốc nhiều vị là có hai vị trở lên như bài Thông xị thang gồm có Thông bạch và Đạm đậu xị; bài Nhân trần Chi tử thang gồm có Nhân trần và Chi tử . Những bài thuốc Đông y đều do người thầy thuốc hoặc nhân dân dựa theo kinh nghiệm chữa bệnh mà dựng nên. Thành phần bài thuốc Đông y[sửa] Một bài thuốc Đông y gồm có 3 phần chính Thuốc chính chủ dược là vị thuốc nhằm giải quyết bệnh chính như trong 3 bài Thừa khí thang thì Đại hoàng là chủ dược để công hạ thực nhiệt ở trường vị. Thuốc hỗ trợ để tăng thêm tác dụng của vị thuốc chính như trong bài Ma hoàng thang, vị Quế chi gíup Ma hoàng tăng thêm tác dụng phát hãn. Thuốc tùy chứng gia thêm tá dược để giải quyết những chứng phụ của bệnh như lúc chữa bệnh ngoại cảm, dùng bài Thông xị thang mà bệnh nhân ho nhiều dùng thêm Cát cánh, Hạnh nhân. Ăn kém dùng thêm Mạch nha, Thần khúc. Ngoài 3 phần chính trên còn có một số vị thuốc Đông y gọi là sứ dược để giúp dẫn thuốc vào nơi bị bệnh như Cát cánh dẫn thuốc lên phần bị bệnh ở trên, Ngưu tất dẫn thuốc xuống phần bị bệnh ở dưới hoặc loại thuốc để điều hòa các vị thuốc khác như Cam thảo, Đại táo, Gừng tươi. Phối hợp các vị thuốc[sửa] Việc phối hợp các vị thuốc trong một bài thuốc như thế nào để phát huy tốt nhất tác dụng của thuốc theo ý muốn của thầy thuốc đó là kỹ thuật dùng thuốc của Đông y. Do việc phối hợp vị thuốc khác nhau mà tác dụng bài thuốc thay đổi. Ví dụ Quế chi dùng với Ma hoàng thì tăng tác dụng phát hãn, còn Quế chi dùng với Bạch thược thì lại có tác dụng liễm hãn cầm mồ hôi. Cũng có lúc việc phối hợp thuốc làm tăng hoặc làm giảm tác dụng của vị thuốc chính, ví dụ như Đại hoàng dùng với Mang tiêu thì tác dụng sẽ mạnh, nếu dùng với Cam thảo thì tác dụng sẽ yếu hơn. Một số thuốc này có thể làm giảm độc tính của thuốc kia như Sinh khương làm giảm độc tính của Bán hạ. Trong việc phối hợp thuốc cũng thường chú ý đến việc dùng thuốc bổ phải có thuốc tả như trong bài Lục vị có thuốc bổ như Thục địa, Hoài sơn, Sơn thù có thêm vị thuốc thanh nhiệt lợi thấp như Phục linh, Đơn bì, Trạch tả. Trong bài thuốc Chỉ truật hoàn có vị Bạch truật bổ khí kiện tỳ phải có vị Chỉ thực để hành khí tiêu trệ. Trong bài Tứ vật có Đương qui, Thục địa bổ huyết thì có vị Xuyên khung để hoạt huyết hoặc dùng thuốc lợi thấp kèm theo hành khí, thuốc trừ phong kèm theo thuốc bổ huyết. Đó là những kinh nghiệm phối hợp thuốc trong Đông y cần được chú ý. Việc dùng thuốc nhiều hay ít[sửa] Việc dùng thuốc nhiều hay ít là tùy theo biện chứng tình hình bệnh mà định, nguyên tắc là phải nắm chủ chứng để chọn những chủ dược trị đúng bệnh, không nên dùng thuốc bao vây quá nhiều gây lãng phí mà tác dụng kém đi, một bài thuốc thông thường không nên dùng quá 12 vị. Liều lượng của mỗi vị thuốc tong bài này tùy thuộc vào các yếu tố sau Thuốc đó là chủ dược hay thuốc hỗ trợ, thuốc chính dùng lượng nhiều hơn. Người lớn dùng lượng nhiều hơn trẻ em và người già. Thuốc bổ thường dùng lượng nhiều hơn các loại thuốc khác. Tùy trọng lượng của thuốc nặng hay nhẹ, ví dụ Thạch cao, Mẫu lệ dùng nhiều như Đăng tâm, Thuyền thoái nhẹ nên chỉ dùng lượng ít. Ngoài ra còn tùy tình hình bệnh và mục đích dùng thuốc mà quyết định lượng thuốc. Cách gia giảm trong một bài thuốc[sửa] Một bài thuốc dù là cổ phương hay kim phương đều có phạm vi chỉ định điều trị trên lâm sàng. Cho nên lúc sử dụng bài thuốc để đạt hiệu quả cao phù hợp với tình hình bệnh lý cần có sự gia giảm tùy theo bệnh tật, theo lứa tuổi, theo thể chất, của người bệnh và tùy theo cả loại dược liệu sẳn có, khí hậu của địa phương. Sự tham gia của các vị thuốc[sửa] Bài thuốc thường do sự thay đổi vị mà tác dụng khác nhau, ví dụ bài Quế chi thang có tác dụng giải biểu điều hòa vinh vệ dùng điều trị các bệnh ngoại cảm biẻu chứng có mồ hôi sợ gió và sốt nhẹ. Nếu bệnh cũng có chứng trên kèm theo suyễn gia Hạnh nhân, Hậu phác; bài thuốc sẽ có tác dụng bình suyễn. Nếu sốt cao bỏ Ma hoàng gia Hoàng cầm bài thuốc sẽ có tác dụng hạ sốt. Hoặc bài Ma hoàng thang có tác dụng tân ôn phát hãn nếu bỏ Quế chi bài thuốc sẽ thành bài Tam ảo thang có tác dụng chính là bình suyễn chỉ khái. Sự gia giảm liều lượng thuốc[sửa] trong một bài thuốc nếu lượng dùng của từng vị thuốc thay đổi thì tác dụng điều trị sẽ thay đổi. Ví dụ bài Chỉ truật hoàn gồm có Chỉ thực và Bạch truật tác dụng chính là kiện tỳ, nếu lượng Chỉ thực tăng gấp đôi Bạch truật thì tác dụng bài thuốc là tiêu tích đạo trệ. Vấn đề thay thế thuốc[sửa] lúc sử dụng một bài thuốc, do tình hình cung cấp thuốc của địa phương mà có thể có một hoặc nhiều vị thuốc thiếu, người thầy thuốc phải tìm những vị thuốc khác có tính vị và tác dụng giống nhau để thay thế bảo đảm cho phép chữa đưọc thực hiện. Ví dụ Hoàng liên, Hoàng cầm, Hoàng bá tuy có khác nhau nhưng đều có tính vị đắng, hàn, tác dụng thanh nhiệt táo thấp có thể thay thế cho nhau được chỉ cần chú ý liều lượng lúc dùng. Ví dụ muốn dùng Chỉ thực thay Chỉ xác thì lượng Chỉ thực phải ít hơn. Phân loại bài thuốc[sửa] Việc phân loại bài thuốc dựa theo 8 phương pháp điều trị của Đông y như Thuốc giải biểu, thuốc gây nôn, thuốc tả hạ, thuốc hòa giải, thuốc thanh nhiệt, thuốc khu hàn, thuốc tiêu đạo, thuốc bổ dưỡng. Ngoài ra còn có các loại thuốc lý khí, lý huyết, thuốc khu phong, thuốc trừ thấp, thuốc khai khiếu, thuốc cố sáp, thuốc trục trùng. Việc phân loại bài thuốc cũng chỉ để tham khảo trong khi sử dụng trên lâm sàng, tác dụng từng loại sẽ được nói rõ hơn trong phần phương tể học. Các dạng thuốc[sửa] Đông dược có 5 dạng thuốc cơ bản Thang, hoàn, tán, cao, đơn. Trong đó 4 loại sau là thuốc được pha chế saün; thực ra thuốc hoàn, tán có khi cũng làm thuốc thang sắc uống. Thuốc thang[sửa] Cho nước vào ấm đổ nước vừa đủ, nấu sôi thành thuốc nước uống. Đặc điểm thuốc thang là dễ gia giảm hợp với tình hình bệnh cho nên là loại thuốc thường được dùng nhiều nhất trên lâm sàng. Nhược điểm chính của thuốc thang là cồng kềnh, mất công sắc thuốc, mất thì giờ, tốn chất đốt, có lúc lượng thuốc nhiều đối với trẻ em sẽ khó uống. Thuốc hoàn[sửa] Đem thuốc tán bột mịn dùng với nước mật hoặc hồ viên thành hoàn. Ưu điểm của thuốc là cho đơn có được uống ngay nhưng thuốc để lâu khó bảo quản, liều lượng có khi phải dùng nhiều, trẻ nhỏ khó uống. Thuốc tán[sửa] Thuốc được tán thành bột mịn dùng uống trong hoặc bôi ngoài, có lúc sắc cùng thuốc sắc. Nhược điểm của thuốc là khó bảo quản, khó uống đối với trẻ em. Thuốc cao[sửa] Thuốc được sắc lấy nước cô đặc thành cao, thuốc có thể chế thành dạng sirô hoặc dạng rượu để dễ bảo quản. Có loại thuốc cao dán hoặc cao mỡ, dầu dùng bôi, đắp ngoài đối với bệnh ngoại khoa ngoài da. Thuốc đơn[sửa] Thuốc hoàn hoặc tán, đưọc tinh chế như các loại Chí bảo đơn, Hồi xuân đơn, Tử tuyết đơn. Ngoài ra còn có các các dạng thuốc ngâm rượu, thuốc đinh như Khô trĩ đinh, thuốc đóng ống tiêm hiện đang sử dụng nhiều ở Trung quốc. Sắc thuốc[sửa] Dụng cụ sắc thuốc tốt nhất là dùng ấm đất, cũng có thể dùng ấm nhôm. Thuốc bỏ vào ấm đổ nước ngập khoảng 2 cm, ngâm thuốc khoảng 15 - 20 phút trước lúc sắc cho thuốc ngấm đều nước, với thang thuốc ngoại cảm thường sắc 2 lần. Mỗi lần sắc còn 1/3 lượng nước đổ vào, thuốc bổ nên sắc 3 lần lúc nước sôi cho nhỏ lửa, sắc lâu hơn và thuốc cô đặc hơn. Sắc thuốc[sửa] Những điều chú ý lúc sắc thuốc Những thuốc thơm có tinh dầu như Bạc hà, Hoắc hương, Kinh giới. nên cho vào sau 10 phút trước khi đem thuốc xuống. Những loại thuốc cứng, nặng như vỏ sò, mai rùa cần đập vụn và cho vào sắc trước. Những thứ hạt nhỏ như hạt Củ cải, hạt Tía bỏ vào vải rồi cho vào sắc. Những thuốc có độc tính như Phụ tử, Ô đầu, Thảo ô. nên sắc trước độ nửa giờ rồi cho các thuốc khác vào sau. Những thuốc quí như Nhân sâm hoặc thuốc nam lượng nhiều quá cũng nên sắc riêng rồi trộn chung với thuốc sắc để uống. Đơn vị cân thuốc[sửa] Theo cân lượng thường dùng cân thuốc Đông y 1 cân = 16 lạng tính thành gam như sau 1 cân = 500 gam. 1 lạng = 31,25 gam. 1 đồng cân = 3,1 gam. 1 phân = 0,31 gam. 1 gam = 3 phân 2 ly. 1 ly = 0,03 gam. Uống thuốc[sửa] Tùy theo loại thuốc mà cách uống thuốc khác nhau, thường mỗi thang thuốc sắc 2 lần. Nếu là thang thuốc bổ nên sắc 3 lần rồi trộn lẫn uống trong một ngày. Thuốc thanh nhiệt và thuốc dưỡng âm nên uống lúc nguội. Thuốc tán hàn và thuốc bổ dương nên uống nóng. Thuốc chữa ngoại cảm, trừ phong nên uống lúc đang bệnh. Thuốc bổ và thuốc chữa bệnh mạn tính nên uống vào sau lúc ăn 1 - 2 giờ, thường uống vào 8 giờ sáng, 2 giờ chiều, tối trước lúc đi ngủ. Đối với trẻ em lượng thuốc có thể chia nhiều lần để uống trong ngày. Xem thêm[sửa] Thuốc Bắc Thuốc Nam Khoảng thời gian để thuốc Đông Y phát huy tác dụng phụ thuộc vào loại bệnh mắc phải và thang thuốc được sử dụng. Nhìn chung, thuốc Đông Y không có tác dụng ngay lập tức như Tây Y mà cần một khoảng thời gian nhất định. Theo Y Học Cổ Truyền, uống thuốc Đông Y không mang lại hiệu quả tức thời như thuốc Tây Y mà cần một khoảng thời gian nhất định. Tác dụng của thuốc thay đổi khác nhau phụ thuộc vào cơ địa và thể trạng của mỗi đó, người bệnh cần kiên trì sử dụng theo liệu trình mà bác sĩ đã đề ra. Bạn chỉ nên dừng thuốc và đi khám ngay nếu sau một thời gian sử dụng thuốc mà bệnh tình không thuyên sử dụng thuốc Đông Y đạt hiệu quả cao thì người bệnh cần sắc thuốc đúng cách, tuân thủ liều lượng và thời gian điều trị,... theo chỉ định của bác sĩ. Tuyệt đối không tự ý bốc thuốc để hạn chế nguy cơ xảy ra tác dụng phụ. 2. Làm thế nào để sử dụng thuốc Đông Y đạt hiệu quả cao? Để thuốc Đông Y phát huy tác dụng nhanh chóng, người bệnh cần chú ý những điều sauSắc thuốc đúng cách Thông thường, mỗi ngày chỉ uống 1 thang thuốc, sắc lại 2 lần với thuốc chữa bệnh, 3 - 4 lần với thuốc bổ, một số chỉ sắc 1 lần duy nhất. Thuốc sắc bao nhiêu lần trong ngày đều trộn chung vào nhau, chia đều các cỡ để uống, điều này giúp cân bằng hoạt chất có trong thuốc, nếu sắc lần nào uống lần đó thì các lần sắc về sau hoạt chất sẽ nhạt dần. Sắc thuốc cần dùng nước sạch, tùy theo lượng thuốc mà đổ nước sao cho vừa phải, thông thường thì đổ ngập thuốc chừng 2 đốt ngón tay với lần đầu, càng về sau đổ ít nước hơn một uống thuốc Phải uống ngay khi thuốc vẫn còn ấm vì khi đó, nhiệt độ của thuốc và cơ thể phù hợp với nhau sẽ gia tăng tác dụng của thuốc, đồng thời tránh đầy bụng. Thông thường, thuốc Đông Y nên được uống vào lúc bụng nửa nói nửa no, uống sau ăn no có thể gây đầy bụng, đối với bệnh đường tiêu hóa thì cần uống lúc đói. Khoảng thời gian tốt nhất giữa các lần uống là 4 giờ với 3 lần uống/ ngày và trên 8 giờ với 2 lần uống/ sắc đúng chuẩn Bạn nên dùng ấm bằng đất nung hoặc sứ, không dùng ấm kim loại để sắc thuốc vì các vị thuốc có nhiều hoạt chất hữu cơ dễ bị phân hủy hoặc làm biến đổi bởi kim loại, thậm chí còn có nguy cơ gây ngộ dùng thuốc quá liều Sử dụng thuốc Đông Y quá liều kéo dài có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe như ngộ độc, suy thận. Vậy nên, bạn cần tuân thủ chính xác liều dụng thuốc đúng với thể bệnh Theo Y Học Cổ Truyền, bệnh tật xảy ra do sự mất cân bằng âm dương, hàn nhiệt, hư thực trong cơ thể. Do đó, đã phân chia bệnh tật thành các thể hàn, nhiệt, hư, thực, mỗi thể bệnh có phương pháp điều trị khác dụng thuốc theo đúng hướng dẫn Người bệnh cần đọc kỹ và tuân thủ tuyệt đối các chỉ dẫn của thầy thuốc vì mỗi loại thuốc được kê đơn đều có cách sử dụng riêng. Lưu ý, những thuốc được chỉ định bôi đắp ngoài mà dùng đường uống có thể gây ngộ độc nghiêm trọng dẫn đến tử dùng thuốc Đông Y kéo dài Sử dụng thuốc Đông Y kéo dài quá thời gian chỉ định có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng gan, thận. Trong đó, tiêu biểu là các loại thuốc đại giả thạch, chu sa, lục thần khúc. Thời gian điều trị thay đổi khác nhau ở mỗi loại thuốc và bệnh, điều bạn cần làm là tuân thủ tự ý dùng cả thuốc Đông Y và Tây Y Dùng kết hợp thuốc Đông Y và Tây Y có thể gây ra tác dụng phụ, đặc biệt khi sử dụng cả 2 loại thuốc cùng lúc sẽ dễ dẫn đến tình trạng công đối không khám tại các cơ sở chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp phép Khi đi khám, bạn cần lưu ý nên đến khám ở những cơ sở y tế đã được cấp phép hoạt động vì có đội ngũ y bác sĩ, trang thiết bị, chất lượng thuốc đúng theo quy định của Bộ Y Tế. Sử dụng thuốc Đông Y đúng cách thì mới đạt hiệu quả cao nhất. 3. Kiêng gì khi uống thuốc Đông Y? Trong quá trình sử dụng thuốc, cần tuân thủ những thứ cần kiêng kỵ như đau dạ dày cần kiêng chua, cay, nóng, đồ chiên xào; bệnh phong thấp cần kiêng đồ biển, đồ phong như tôm cua cá biển, thịt bò, măng, gà, cà mà chỉ nên ăn thịt heo, cá đồng, cá sông. Ngoài ra, cần phải kiêng các yếu tố làm mất chất lượng của thuốc như đậu xanh, giá, củ cải trắng, rau muống, khoai lang. Ngoài ra, còn có một số điều cần kiêng kỵ khác dựa trên tình trạng bệnh nhưĐau bụng kèm tiêu chảy Cần kiêng các loại thảo dược như mật ong, quả dâu, vừng đen, lô hội, thủ ô, trúc lịch nước ép từ đọt tre, quả ngưu bàng, tri mẫu, thiên hoa phấn, chi tử quả dành dành, sinh địa, tử thảo, sơn đậu căn, binh lang hạt cau, hoàng dược tử, bá tử nhân, nhục thung dung, cùi hồ đào, tỏa dương, đương quy, thục địa, a giao, thiên đông, hoàng tinh, bách hợp, câu khởi tử, hạn liên thảo, trinh nữ tử, miết giáp ba ba.Phụ nữ có thai kiêng dùng đan bì, thận trọng khi dùng thông thảo, hạt đông quỳ, gừng khô, quế chi, nguyên hoa, ba đậu, quả khiên ngưu, thương lục, thiên kim tử, cù mạch, phụ tử, hổ tượng, đào nhân, ngưu tất, xuyên sơn giáp, tê giác, ngưu bàng, xạ can, đại hoàng, mang tiêu, phan tả diệp, lô hội, mộc thông, chỉ thực, dương kim hoa, đại giả thạch, băng phiến, quy bản, xích thạch chi, cam toại, ba kích, ô đầu, bồ hoàng, nhu hương, một dược, tam lăng, nga truậtTì vị hư hàn Cần thận trọng khi dùng sinh địa, hoàng bá, đại thạch diệp, thiên hoa phấn, thạch cao, tri mẫu, hoàng cầm, long đảm thảo, khổ sâm, huyền sâm, xuyên luyện tử, thanh đại, sơn đậu căn, từ thạch, lô hội, chỉ thực, hoàng dược tử, hạn liên thảo, quy bản mai rùa, ba ba, mạch môn đông, thiên môn huyết kiêng dùng tam thất âm hư có nhiệt, bồ kết khạc ra máu, lộc nhung dương nhiệt, xuyên khung, nhục quế huyết nhiệt, quế chi nhiệt mạnh, nha đảm tử xuất huyết dạ dày, ruộtSốt do cảm hàn bên ngoài nên kiêng dùng ô mai, hoàng kỳ, đông trùng hạ thảo, ngũ bội tử, rễ ma hoàng, kha tử, địa cốt bì, ngân tử hồ, dương kim hoa, thạch môn đông, hạt ngũ nhược gầy yếu cẩn thận trong khi dùng dương kim hoa, minh phàn, ban miệu, cam toại, đại kích, thường sơn, đảm phàn, lê lô, nguyên hoa, ba đậu, thiên kim tử, uy linh bụng nên kiêng dùng mật ong, đại táo, thục địa, hoàng tinh, kha tử, sinh địa, hoài sơn, đường mạch nha, đương quy, cùi long mồ hôi trộm, bệnh động mạch vành, tim đập nhanh cần kiêng ma huyết áp cần kiêng ma hoàng, thận trọng khi dùng dương kim cần kiêng hoàng liên hư hàn, thương nhĩ tử, hoàng dược ăn kiêng hoàng cầm, chi tử, lô hội, a giao, ba ba, phòng kỷ, sơn đậu căn, huyền hư nên kiêng dùng ngân tử hồ, toàn hạt, cào bản, thương nhĩ con bằng sữa mẹ kiêng đại hoàng, mạch nha, phan tử kinh nên cẩn thận với phan tử diệp, quế chi, đại kinh nên cẩn thận khi dùng nga truật, ngưu tất, đan bì, xuyên khung, tam manh mắt nên kiêng thục địa, dương kim hoa, thạch dương nước do tỳ hư kiêng dùng chu sa, đại phong tử, nha đảm tử, hoàng dược hư nên kiêng dùng hạt cải củ, thanh dễ bị dị ứng nên kiêng dùng hạt cải loét dạ dày thận trọng khi dùng viễn chí, tạo thực, chứng nhiệt nên kiêng dùng nhân thận nên kiêng dùng thu thạch. 4. Ngộ độc khi dùng thuốc Đông Y là do đâu? Ngộ độc khi dùng thuốc Đông Y có thể xảy ra do các yếu tố sauBị dị ứng với thành phần của quá liều khi dùng các thang thuốc có chứa độc dược như bán hạ, hoàng nàn, mã tiền, phụ quá trình chăm bón sử dụng quá nhiều chất hóa học độc hại, quá trình bảo quản, bào chế sai cách tạo điều kiện cho nấm mốc sinh sôi gây dị lẫn dược liệu khi thu hái, mua bán và sử dụng có thể gây ngộ độc khi sử tuân thủ cách sắc, cách uống, liều lượng và thời gian điều quá nhiều loại thuốc, cả Tây Y và Đông Y gây tương tác thuốc, dẫn đến sản sinh các chất gây hại cho cơ hãy nhớ lưu ý những điều trên để có thể sử dụng thuốc Đông Y một cách hiệu quả nhất. Đừng quên theo dõi trang web thường xuyên để cập nhật nhiều thông tin hữu ích viết tham khảo XEM THÊM Viêm mũi dị ứng có thể chữa bằng thuốc đông y không? Đang dùng thuốc tây điều trị viêm phù nề xung huyết dạ dày, viêm hang vị có thể kết hợp với thuốc đông y được không? Giảo cổ lam mọc ở đâu và có tác dụng gì? Bài viết này được viết cho người đọc tại Hà Nội.

1 chỉ trong đông y là bao nhiêu